tai facebook, chung cu times city, times city park hilll
Đăng ký thành viên | Quên mật khẩu Google translate >> English
Số liệu thống kê

Bảng giá điều ngày 15-10-2018

  • Điều nhân XK: 
  • W240: 4,3-4,35 (**); W320: 4,05-4,1;
  • W450/ SW320/ LBW320: 3,75-3,90;  
  • WS/ WB: 4,0-4,05; 
  • LP: 3,5-3,55; SP: 2,55-2,6.
  •  

Quy đổi Gram » lbs/80kgs

»
Ngày cập nhật :23/09/2018

Xuất khẩu hàng nông, thủy sản vào Nhật Bản: Chưa tương xứng mối quan hệ hai nước

(21/09//2018) Xuất khẩu hàng nông, thủy sản vào Nhật Bản: Chưa tương xứng mối quan hệ hai nước

Hiện nay nhiều doanh nghiệp sản xuất, chế biến hàng nông, thủy sản quan tâm và muốn đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.

Dù hiệp định thương mại tự do song phương giữa hai nước Việt - Nhật (VJEPA) và hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và Nhật Bản (AJCEP) đã được ký kết cách đây gần 10 năm, nhưng hàng nông, thủy sản Việt Nam xuất vào Nhật vẫn còn gặp khó khăn, chưa tương xứng mối quan hệ giữa hai nước.

Tại hội thảo Xúc tiến XK hàng nông thủy sản sang thị trường Nhật, do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP Cần Thơ tổ chức mới đây, ông Nguyễn Mạnh Hùng - Trưởng phòng Quan hệ quốc tế (Cục Xúc tiến Thương mại - Bộ Công Thương) nhận định: Nhật Bản là thị trường đáng tin cậy, ổn định, có mối quan hệ lâu dài hơn 40 năm qua và có điều kiện văn hóa tương đồng với nước ta. Đó là điều kiện thuận lợi trong xúc tiến thương mại, phát triển kinh tế.

08-46-17_tom_mot_trong_nhung_hng_thuy_sn_xk_mnh_sng_nht_-_nh_st
Tôm, một trong những hàng thủy sản XK mạnh sang Nhật (Ảnh: ST)

Nhóm hàng nông - lâm - thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản nhiều nhất là thủy sản: Tôm, mực, bạch tuộc, cá ngừ, cua, ghẹ; tiếp đến là rau quả, hạt tiêu, hạt điều, cà phê, cao su, sắn… Trong năm 2017, kim ngạch thương mại giữa hai nước Việt - Nhật đạt 33,84 tỷ USD, tăng 16,8% so với năm 2016. Riêng 7 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản đạt 20,93 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng 2 con số: Nhóm hàng chế biến, chế tạo đạt 12,9 tỷ USD, tăng 11,2%; nông - thủy sản đạt 1,7 tỷ USD, tăng 17,8%; vật liệu xây dựng đạt trên 667 triệu USD, tăng 28,5%; nhiên liệu, khoáng sản trên 483 triệu USD, tăng 97,5%.

Tuy kim ngạch thương mại hai chiều Việt - Nhật liên tục tăng trưởng trong những năm gần đây, nhưng ông Hùng cho rằng: Xuất khẩu hàng nông - thủy sản của Việt Nam sang Nhật Bản vẫn còn gặp khó khăn, vướng mắc. Hàng trái cây muốn sang được thị trường Nhật phải xử lý hơi nước nóng trong bảo quản. Còn hàng thủy sản, theo quy định kiểm soát tồn dư tối đa cho phép (MRL) đối với hóa chất, kháng sinh trong hàng thủy sản (như Ethoxyquin và Oxytetracycline đối với tôm đông lạnh).

Các rào cản kỹ thuật là nguyên do chính khiến cho hàng nông - thủy sản Việt Nam khó vào thị trường Nhật. Trong thực tế các DN từng xuất khẩu hàng vào các thị trường khó tính ở phân khúc cao cấp xác định hàng trái cây nước ta còn nhiều tiềm năng, đa dạng chủng loại và một số trái cây đặc sản chủ lực có khả năng sản xuất đạt sản lượng lớn… nhất định phải mở rộng cửa thị trường xuất khẩu sang các nước Đông Bắc Á. Đối với thị trường Trung Quốc, hàng nông - thủy sản xuất theo tiểu ngạch “hàng chợ” còn rủi ro, bấp bênh trong khi xuất khẩu chính ngạch đã khó khăn bởi hàng rào thuế quan và yêu cầu đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.

Theo nhận xét của các DN đã khảo sát và xuất khẩu hàng nông - thủy sản vào Nhật, sức hấp dẫn của thị trường Nhật và độ mở cho hàng nông, thủy sản Việt Nam còn nhiều tiềm năng hứa hẹn. Nhưng muốn đạt tiêu chuẩn để vượt hàng rào kỹ thuật cần phải làm gì? Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Cty CP Thực phẩm Sao Ta, cho rằng: Nói chung hàng nông sản, thủy sản muốn tiêu thụ ổn định phải có sản lượng đáp ứng đủ nhu cầu với chất lượng, mẫu mã phù hợp và có giá cả cạnh tranh. Trong đó vệ sinh an toàn thực phẩm là yếu tố hàng đầu. Muốn vậy các DN Việt phải tổ chức vùng nguyên liệu (tự sản xuất hoặc liên kết các trang trại, các nông dân...) với quy trình canh tác (nuôi, trồng) chuẩn mực, nghiêm ngặt, kiểm soát chặt chẽ quá trình đó nhằm mục đích trong sản phẩm không có dư lượng chất cấm. Khâu bảo quản sau thu hoạch ngày càng phải chú ý nhiều hơn để bảo đảm có nguyên liệu tốt nhất cho chế biến. Vướng mắc hiện nay là sản xuất nhỏ lẻ, chất lượng không ổn định, không đồng đều và kiểm soát chưa chặt chẽ.

Để xúc tiến vào thị trường Nhật Bản, ông Nguyễn Mạnh Hùng đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn là cần tập trung phân tích, hỗ trợ chi phí lấy mẫu đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; đàm phán tháo gỡ rào cản và thu hút đầu tư của DN Nhật Bản vào lĩnh vực sản xuất nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, cần phải đổi mới phương thức tiếp cận thị trường cùng với quảng bá mạnh mẽ hơn nữa thương hiệu cho từng thế mạnh của các sản phẩm xuất khẩu, chủ động tham gia vào các hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trường Nhật Bản. Trong hợp tác nông nghiệp Việt - Nhật, xây dựng tầm nhìn trung và dài hạn trong hợp tác xây dựng chuỗi giá trị thực phẩm từ sản xuất đến gia công, lưu thông tiêu thụ sản phẩm thông qua sự đầu tư phát triển kinh tế với sự tham gia của các cơ quan nhà nước và DN tư nhân của hai nước.

Giữa hai nước đang thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do, đáng chú ý là Hiệp định Thương mại tự do song phương (VJEPA), có hiệu lực từ ngày 1/10/2009. Theo đó, trong 10 năm, Nhật Bản cam kết tự do hóa đối với 94,53% kim ngạch thương mại, còn Việt Nam là 87,66%.

Cụ thể, hàng tôm, cua, ghẹ và một số sản phẩm cá được hưởng thuế suất 0% ngay khi VJEPA có hiệu lực. Những mặt hàng thủy sản còn lại có lợi ích xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, phía Nhật cũng giảm thuế từ mức bình quân 5,4% năm 2008 xuống 1,31% năm 2019. Hàng rau quả tươi được hưởng thuế suất 0% sau 5 - 7 năm, sản phẩm nông sản giảm từ 8,1% năm 2008 xuống 4,74% vào năm 2019.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng khó khăn lớn của hàng nông, thủy sản Việt vào thị trường Nhật là những mặt hàng thế mạnh lại bị Nhật bảo hộ mạnh. Bên cạnh, yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng nhập khẩu vào thị trường Nhật là rất cao. Hàng thủy sản: quy định kiểm soát tồn dư tối đa cho phép (MRL) đối với hóa chất, kháng sinh khá ngặt nghèo, đặc biệt các chất Ethoxyquin và Oxytetracycline đối với tôm đông lạnh. Hàng trái cây: phải xử lý hơi nước nóng trong bảo quản, tránh côn trùng xâm nhập nên hiện mới có thanh long ruột trắng xuất khẩu được từ năm 2009, xoài từ năm 2015, chuối từ năm 2016 và thanh long ruột đỏ từ năm 2017.

Nhiều phát biểu tại hội thảo thống nhất, để khai thác tiềm năng thị trường Nhật cho hàng nông, thủy sản Việt thì không có con đường nào khác ngoài nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm. Đó cũng là con đường phát triển bền vững của nông, thủy sản Việt để mở rộng nhiều thị trường khác trên thế giới.

Mời doanh nghiệp Nhật đầu tư nông nghiệp

Trong các giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường Nhật Bản, ông Nguyễn Mạnh Hùng (Trưởng phòng Quan hệ quốc tế của Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương) đề cập đến việc mời gọi doanh nghiệp Nhật đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Đây cũng là con đường khá căn cơ để thúc đẩy phát triển hàng nông, thủy hải sản Việt trong xu thế tiến vào công nghệ 4.0, bởi Nhật Bản có nền kinh tế phát triển, có kỹ thuật công nghệ cao.

Theo ông Hùng, tính đến cuối tháng 3/2018, Nhật Bản có gần 3.700 dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 50 tỷ USD, đứng thứ 2 trong 116 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào nước ta. Nhiều dự án của Nhật Bản đã hoàn thành, đưa vào khai thác rất hiệu quả, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Bên cạnh, Nhật Bản là quốc gia viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng cam kết ODA của cộng đồng quốc tế.

Chào đón sản phẩm chất lượng cao

Ông Đặng Văn Thái, Giám đốc Cty Artex Gobelin, có hơn 10 năm kinh nghiệm xuất khẩu sang Nhật Bản, kể lần đầu sang Nhật, thấy người Nhật rất quý gạo hương lài được trồng ở Việt Nam và Campuchia, bán giá cao trong các siêu thị. Tuy nhiên, gạo hương lài của Campuchia xuất khẩu sang Nhật trên 850 USD/tấn, còn gạo Việt Nam chỉ 600 - 650 USD/tấn, do khác nhau về phương thức sản xuất để giữ chất lượng cao. Quá trình xuất khẩu nông sản sang Nhật, ông Thái hiểu rằng, rất nhiều nông sản của Việt Nam nếu giữ được đặc trưng và thuần chủng thì thị trường Nhật luôn mở cửa đón nhận. Đặc biệt là các sản phẩm hữu cơ, đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe của người tiêu dùng Nhật Bản.

Quy định kiểm tra ngặt nghèo

Bà Trần Thùy Dung ở Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản thuộc Bộ NN-PTNT cho biết, thị trường Nhật có các quy định về vệ sinh kiểm dịch và an toàn thực phẩm khá ngặt nghèo. Chẳng hạn, mức dư lượng hóa chất tối đa (MRLs) rất thấp cho 758 loại hóa chất nông nghiệp trong khoảng 10.000 MRLs chính thức hiện nay. Thực phẩm bị phát hiện vượt quá mức MRLs trong danh sách xác nhận là bị từ chối tại cảng nhập khẩu. Một hành vi vi phạm có thể dẫn đến việc tăng cường giám sát (khoảng 30%) tất cả các hoạt động nhập khẩu của cùng loại hàng hóa từ Việt Nam. Sau hai lần vi phạm vượt mức MRLs cụ thể, sản phẩm đó có thể phải theo lệnh yêu cầu giám định rất tốn kém, bị giữ lại và bị kiểm tra 100%.

HỮU ĐỨC - PHẠM DUY TƯƠNG
Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam


Ý kiến bạn đọc



Bản tin khác


Vui lòng đăng nhập thành viên để xem thông tin chi tiết

Tên đăng nhập Mật khẩu Nhớ mật khẩu | Đăng ký thành viên
Đăng nhập

Nhập email của bạn để nhận lại thông tin login từ hệ thống

Đồng ý

LeToan.co